Dây thòng bong trị tiểu ra máu, sỏi thận

Dây thòng bong chữa tiểu ra máu

Theo giáo sư Phạm Công Đức. đông y sử dụng cây thòng bong để tăng sức đề kháng , giải độc gan, tiểu ra máu , chữa sỏi thận,,,,,, vậy mọi người có kiến thức y học cố gắng nguyên cứu thử dược liệu này xem.

sau đây là một số tác dụng dược lý đã được nguyên cứu của ngành đông y cũ.

Tác dụng của cây thòng bong:  

Đã được đề cập nhiều trong Đông Y, trong đó nổi bật các đặc tính sau:

  • Trị ăn uống khó tiêu, chướng bụng do thấp trệ: 30g thòng bong, 8g bạch truật, 2g cam thảo sắc thành nước uống mỗi ngày 1 thang;
  • Trị phù thũng toàn thân, chướng bụng, khó thở : 15g cây bòng bong, 30g hạt bìm bìm (một nửa để sống, một nửa sao chín), 15g cam toại rồi nghiền tất cả thành bột mịn. Mỗi lần dùng 8g bột sắc với 1 bát nước, uống thuốc vào trước bữa ăn hàng ngày.
  • Điều trị viêm gan: 15g cây thòng bong, 30g nhân trần, 20g mã đề để sắc nước uống mỗi ngày một thang.
  • Tiểu tiện ra máu : Sắc kỹ 60-90g dây và lá bòng bong với nước, chia thành 2-3 lần uống trong ngày;
  • Trị tiêu chảy: Dùng thòng bong cả cây sắc làm nước uống.
  • Trị di tinh, mọng tinh: Đốt tồn tính dây thòng bong, sau đó nghiền mịn, mỗi lần dùng 4-5g bột hòa với nước sôi uống.
  • Trị tiểu tiện lẫn sỏi sạn: 30g cây thòng bong, 30g hoạt thạch, 30g rễ cỏ tranh, 60g kim tiền thảo, 12g xa tiền thảo (cỏ mã đề) sắc kỹ với nước, chia làm 3 phần uống trong ngày.
  • Trị tiểu ra máu : Tán cây thòng bong khô thành bột mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 8g hòa với nước đường để uống.
  • Điều chế trà lợi tiểu: Áp dụng cho các trường hợp đi tiểu khó khăn. Chuẩn bị 60-90g cây thòng bong sắc với nước, hòa với chút đường uống thay trà trong ngày.
  • Trị viêm tuyến vú: 25-30g thòng bong, sắc kỹ với nửa phần nước, nửa phần rượu rồi chia làm 3 phần uống trong ngày.
  • Phụ nữ ra nhiều bạch đới (đới hạ): Cắt 1 lạng dây thòng bong thành những đoạn nhỏ, hầm kỹ với thịt lợn nạc sau đó bỏ bã thuốc, ăn thịt và uống nước canh.
  • Trị bỏng lửa: Đốt tồn tính cây bòng bong, nghiền thành bột mịn rồi trộn với dầu vừng bôi vào vị trí bị bỏng.
  • Trị mụn rộp loang vòng: Giã nát dây và lá bòng bong, đắp vào vị trí bị bệnh ngày 2 lần.
  • Bị ong vàng đốt: Giã nát lá thòng bong đắp vào vị trí bị thương.
  • Chữa vết thương phần mềm: 40g lá trầu không tươi, 20g phèn phi, 2 lít nước. Nấu lá trầu với 2 lít nước, sau đó để nguội gạn lấy nước trong.
  • Cho phèn phi vào đánh cho tan, sau đó đem lọc để rửa sạch vết thương. Sau đó giã nhỏ lá mỏ quạ tươi (bỏ cọng) đắp lên vết thương để băng bó.
  • Nếu vết thương xuyên thủng thì đắp cả 2 bên bề mặt hở, mỗi ngày rửa và thay băng 1 lần. Sau 3-5 ngày đỡ hơn thì 2 ngày thay băng 1 lần.
  • Nếu vết thương tiến triển tốt nhưng lâu đầy thịt thì thay công thức thuốc đắp thì dùng lượng ngang nhau lá mỏ quả tươi và lá thòng bong, giã nát đắp vào vết thương.
  • Mỗi ngày rửa và thay băng 1 lần, 3-4 ngày sau lại thay đơn thuốc lần nữa: dùng lượng bằng nhau lá mỏ quả tươi, lá thòng bong tươi và lá cây hàn the, giã nát và đắp lên vết thương nhưng đợi 2-3 ngày mới thay băng 1 lần.

Theo các ghi chép Đông Y, bòng bong dược liệu có vị ngọt, tính hàn, quy vào 2 kinh là bàng quang và tiểu trường.

  • Tác dụng: Lợi thấp, giải độc, thanh nhiệt, thông lâm, tả thấp nhiệt ở tiểu đường, bàng quang.
  • Chủ trị: Sỏi đường tiểu, sỏi mật, thủy thũng, viêm thận, mụn nhọt sang lở, bỏng da.
dây thòng bong trị tiểu ra máu

Trong Đông y, vị thuốc này được sử dụng để điều trị các bệnh sau:

  • Chữa viêm thận, phù thũng, phù nề.
  • Chữa sỏi thận, sỏi bàng quang, sỏi mật, sỏi niệu đạo.
  • Chữa các chứng tả thấp nhiệt gây viêm bàng quang, viêm đường tiết niệu.
  • Chữa các chứng tiểu rắt, tiểu buốt, bí tiểu, tiểu tiện ra mủ, tiểu tiện ra dưỡng chất.
  • Điều trị bệnh viêm gan.
  • Dùng cho người bị mụn nhọt trên da, bị bỏng da hoặc chảy máu do tai nạn.

Bài thuốc chữa vết thương phần mềm

Bước 1: Lá trầu không tươi 40g, Phèn phi 20g. Dùng 2 lít nước nấu lá Trầu không xong để nguội, gạn lấy nước trong cho Phèn phi vào, đánh cho tan, đem lọc để rửa vết thương.

Bước 2: Sau khi rửa vết thương, băng bằng thuốc sau đây: Lá mỏ quạ tươi (Cudrania cochinchinensis) rửa sạch bỏ cọng, giã nhỏ đắp lên vết thương.

  • Nếu vết thương xuyên thủng thì đắp cả 2 bên: ngày rửa và thay băng 1 lần, sau 3 – 5 ngày thấy đỡ thì 2 ngày thay băng một lần.
  • Nếu vết thương tiến triển tốt nhưng lâu đầy thịt thay thuốc gồm lá Mỏ quạ tươi và lá Thòng bong hai thứ bằng nhau.
  • Giã nát đắp vào vết thương, ngày rửa thay băng một lần, 3 – 4 ngày sau lại thay bằng thuốc.
  • Lá Mỏ quạ tươi, lá Thòng bong, lá Hàn the 3 vị bằng nhau giã nát, đắp lên vết thương nhưng  chỉ 2 – 3 ngày mới thay băng một lần. (Theo tạp chí Đông y 4/1966)

Chữa ăn uống khó tiểu, bụng trướng đầy (tỳ thấp trướng mãn)

Hải kim sa (bòng bong) 30g, bạch truật 8g, Cam thảo 2g. Sắc lấy nước uống mỗi ngày một thang. (theo Tuyền Châu bản thảo)

Toàn thân phù thũng, bụng trướng như cái trống, nằm không thở được

Hải kim sa 15g, hạt Bìm bìm (khiên ngưu tử) 30g – một nửa để sống một nửa sao chín, Cam toại 15g, tất cả nghiền thành bột mịn, trộn đều.

Mỗi lần dùng 8g bột thuốc sắc với một bát nước, uống vào trước bữa ăn hàng ngày. (theo Y học phát minh)

Chữa viêm gan

Hải kim sa: 15g, nhân trần: 30g, Xa tiền thảo: 20g, sắc nước uống mỗi ngày một thang. (theo Giang Tây thảo dược)

Đi lị ra máu

Dây và lá thòng bong 60 – 90g, sắc kỹ với nước, chia thành 2 – 3 lần uống trong ngày. (theo Phúc Kiến dân gian thảo dược)

Chữa ỉa chảy (phúc tả)

Thòng bong cả cây, sắc nước uống. (theo Mân Nam dân gian thảo dược)

Chữa di tinh, mộng tinh (mộng di)

Dây thòng bong đốt tồn tính, nghiền mịn, mỗi lần dùng 4 – 6g hoà với nước sôi uống. (theo Phúc Kiến dân gian thảo dược)

Chữa đái ra dưỡng chấp (cao lâm)

Dùng Hải kim sa 40g, Hoạt thạch 40g, Cam thảo 10g. Tất cả đem tán nhỏ, trộn đều. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 8g.

Dùng nước sắc với khoảng 20g Mạch môn (củ tóc tiên) hoặc 10g Cỏ bấc đèn (đăng tâm thảo) để chiêu thuốc. (Thế y đắc hiệu phương)

Chữa sỏi sạn (thạch lâm)

Dùng Hải kim sa: 30g, Hoạt thạch: 30g, Bạch mao căn (rễ cỏ tranh): 30g, kim tiền thảo: 60g, Xa tiền thảo (cỏ mã đề): 12g. Sắc kỹ với nước, chia 3 phần uống trong ngày (Lâm sàng thường dụng Trung dược thủ sách).

Chữa tiểu tiện ra máu

Hải kim sa tán thành bột mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 8g, hoà với nước đường cùng uống (Phổ tế phương).

Hải kim sa (chỉ dùng dây), Biển súc: mỗi thứ 15 – 20g, sắc nước uống (Tứ Xuyên Trung thảo dược).

 Trà lợi tiểu – Dùng trong các trường hợp tiểu tiện khó khăn

Hải kim sa 60 – 90g, sắc với nước, thêm chút đường vào uống thay trà trong ngày. (Phúc Kiến dân gian trung thảo dược)

Chữa viêm tuyến vú

Hải kim sa 25 – 30g, sắc kỹ với nửa phần nước nửa phần rượu, chia 3 phần uống trong ngày. (Lâm sàng thường dụng Trung dược thủ sách).

Phụ nữ ra nhiều huyết trắng

Dùng dây thòng bong 1 lạng, cắt thành những đoạn nhỏ, nấu kỹ với thịt lợn nạc thành món hầm, bỏ bã thuốc, ăn thịt và uống nước canh. (Giang Tây dân gian thảo dược nghiệm phương)

Chữa bỏng

Hải kim sa thiêu tồn tính, nghiền thành bột mịn, trộn với dầu vừng bôi vào chỗ bị bỏng. (Lâm sàng thường dụng Trung dược thủ sách)

Chữa mụn rộp loang vòng

Dây và lá thòng bong tươi đem giã nát, đắp vào nơi bị bệnh ngày 2 lần. (Lâm sàng thường dụng Trung dược thủ sách)

Ong vàng đốt bị thương

Dùng lá thòng bong tươi giã nát, đắp vào chỗ bị thương. (Quảng Tây Trung thảo dược)

Thông tin chung về cây thuốc

Mỗi một địa phương khác, vùng miền khác nhau sẽ có những cách gọi khác nhau cho loại cây này.

  • Tên dược liệu: Cây bồng bông
  • Tên gọi khác: Cây bòng bong, Bồng bồng, Hải kim sa, Thòng bong, Dương vong, Thạch vĩ dây, Bòng bong dẻo, Dương vĩ,…
  • Tên y dược: Spora Lygodii
  • Tên khoa học: Lygodium Flexuosum
  • Thuộc họ: Thòng bong – Schizaeaceae

Mô tả dược liệu

Cây bòng bong là một loại cây dây leo mọc hoang ở các bụi rậm hay bờ rào và có những đặc điểm nhận biết sau:

Bòng bong là loài thực vật dạng leo, thân rễ mọc bò và xanh tốt quanh năm. Loại cây này có cuống chính dày khoảng 2,4mm Lá cũng rất dài khoảng 16 – 30cm sẻ thành vài nhánh như lông chim.

Lá mọc cách thành từng đốm trên cuống chính của cây. Lá xẻ lông chim 2 – 3 lần, các lá chét có hình tam giác, trục lá uốn ngoắn ngoèo, có lông, lá chét sinh sản giống với các lá thường, nhưng ngắn hơn.

Trên mỗi mép lá chét con mang nhiều túi bào tử gọi là ổ túi bào tử là những hạt phấn nhỏ màu vàng nhạt hay nâu vàng, chất nhẹ, sờ nhẵn, cảm giác mát tay, nom tựa cát biển.

Block "tu-van" not found

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.